29.04.2020

ThS. Phạm Thị Thơm

Phó Hiệu trưởng, Trường Chính trị Kiên Giang

Đã 45 năm trôi qua, nhưng niềm vui chiến thắng khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hoàn toàn độc lập vào ngày 30/4/1975 vẫn như còn vang mãi trong lòng mỗi người dân Việt Nam. Đó là thành quả vĩ đại của cách mạng Việt Nam, khẳng định ý chí thống nhất và khát vọng hòa bình của toàn thể dân tộc; là sự kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế… Thắng lợi ngày càng được khẳng định và trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Dấu son lịch sử đó của dân tộc ta để lại nhiều ý nghĩa cho đến tận ngày nay và mai sau.

Mùa Xuân năm 1975, nhân dân Việt Nam đã ghi một chiến công vĩ đại nhất, hiển hách nhất trong lịch sử anh hùng của dân tộc: Sau 55 ngày đêm tiến công thần tốc, quân và dân ta đã toàn thắng. Vào lúc 11h30’ ngày 30/4/1975 lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Ngày toàn thắng 30/4/1975 đã đi vào lịch sử như một sự kết thúc trọn vẹn nhất, đẹp đẽ nhất của cuộc chiến tranh 10.000 ngày. Dân tộc Việt Nam, một dân tộc luôn khát khao hoà bình, đã phải trải qua cuộc trường chinh 30 năm đầy hy sinh gian khổ. Với Đại thắng mùa Xuân 1975, dân tộc ta đã hoàn thành vẻ vang sự nghiệp cứu nước, đất nước ta sạch bóng quân thù, Tổ quốc ta hoàn toàn độc lập, thống nhất.

Thắng lợi lịch sử 30/4/1975 là khúc khải hoàn ca của dân tộc, là bài ca hùng tráng nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam kết tinh truyền thống yêu nước của dân tộc, là bản lĩnh và trí tuệ của người Việt Nam, một đất nước không khuất phục trước kẻ thù, một dân tộc được hun đúc từ truyền thống yêu nước, yêu chuộng hòa bình, được phát huy trong từng giai đoạn lịch sử, tạo nên “thế trận lòng dân” và “chiến tranh nhân dân” vững chắc, đánh bại mọi thứ bom đạn, vũ khí tối tân, chất độc hóa học và âm mưu xảo quyệt của chủ nghĩa đế quốc, trở thành biểu tượng cao đẹp, sáng ngời của tinh thần yêu nước Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn. Song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đây là chân lý vĩnh hằng. Do vậy, trải qua những năm tháng chiến đấu ác liệt, phải đương đầu và đánh thắng nhiều loại kẻ thù, quân và dân miền Nam, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, đã rèn đúc nên một bản lĩnh kiên cường, một quyết tâm không gì lay chuyển nổi, sẵn sàng vượt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, đạp bằng chông gai, hoàn thành mục tiêu giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Với quyết tâm đánh Mỹ, tìm cách thắng Mỹ với niềm tin chắc thắng, bởi sức mạnh của một cuộc chiến tranh chính nghĩa của cả một dân tộc chiến đấu vì nền độc lập và thống nhất, trong Nghị quyết 12 (12-1965), Đảng ta khẳng định: "Mặc dầu đế quốc Mĩ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn. Tuy cuộc chiến tranh ngày càng trở nên gay go, ác liệt nhưng nhân dân ta đã có cơ sở vững chắc để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch" [1, tr.633]. Chỉ có một dân tộc có bản lĩnh kiên cường mới có thể đưa ra được những nhận định hết sức tỉnh táo, đầy căn cứ khoa học. Quyết tâm, bản lĩnh đó thể hiện cao độ trong những ngày tháng cuối cùng của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại của dân tộc.

Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968 của nhân dân ta đã giáng cho Mỹ - ngụy một đòn nặng nề, làm đảo lộn thế chiến lược, làm lung lay ý chí xâm lược của Chính quyền Mỹ và buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh. Cuối năm 1968, Tổng thống Giôn xơn tuyên bốn ngừng ném bom trên lãnh thổ miền Bắc, đến đầu năm 1969, Tổng thống Giôn xơn tuyên bốn ngừng ném bom trên toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và chấp nhận ngồi vào đàm phán với ta tại Hội nghị Pari.

Tuy nhiên, muốn thương lượng và kết thúc chiến tranh trên thế mạnh, đến cuối năm 1972, Mĩ đã tráo trở dùng máy bay chiến lược B52 mở màn chiến dịch tập kích vào Hà Nội, Hải Phòng như một “canh bạc” cuối cùng hòng khuất phục dân tộc ta. Một lần nữa, dân tộc Việt Nam đứng trước thách thức của lịch sử. Phải có một tầm nhìn chiến lược mới có thể đủ sức mạnh về cả tinh thần và lực lượng để đảm bảo chiến thắng trong những bước ngoặt quyết định của cuộc kháng chiến. Tầm nhìn chiến lược ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra ngay từ đầu năm 1968, khi đến thăm Bộ tư lệnh Phòng không- Không quân, Người đã dự đoán: "ở Việt Nam Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội" [2, tr.203]. Nhờ dự đoán đúng tình hình, Việt Nam đã chủ động chuẩn bị lực lượng đối phó trong mọi tình huống, quân và dân ta đã làm nên trận "Điện Biên Phủ trên không", đập tan cuộc tập kích chiến lược của Nixon, buộc đế quốc Mĩ phải kí Hiệp định Pari rút hết quân chiến đấu, kể cả quân các nước chư hầu về nước. Đó chính là thắng lợi của khí phách, bản lĩnh và trí tuệ của chính con người Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam.

       Chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử nước Mĩ (21 năm, ứng với 222 tháng), chi phí khoảng gần 700 tỉ đô la và trên 6,5 triệu lượt lính Mĩ tham chiến tại chiến trường Việt Nam. GS. sử học Mĩ Gabrien Côncô nhận định: Đây thực sự là một cuộc chiến tranh "mà quy mô đau khổ và tàn phá vượt qua mọi lời lẽ".

          Trong cuộc Kháng chiến chống Thực dân Pháp (1945-1954), chúng ta đã buộc Pháp ngồi vào bàn đàm phán ký kết Hiệp định Giơnevơ với hội nghị kéo dài hơn 2 tháng, nhưng trong cuộc Kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954-1975), chúng ta buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán ký kết Hiệp định Pari với hội nghị kéo dài 4 năm, 9 tháng. Qua đó chúng ta mới có thể cảm nhận được ý chí và quyết tâm cao của Việt Nam trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Bản lĩnh của những người làm nên chiến thắng còn thể hiện trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Gác sang một bên những hoạt động trung gian hối hả của các phe nhóm, lực lượng, kể cả của nước ngoài hòng xoay chuyển kết cục theo ý của họ; gác sang một bên những câu nói bóng gió mang hàm ý ngăn đe của thế lực phản động, tập thể lãnh đạo Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu giải phóng hoàn toàn miền Nam, giành chính quyền về tay nhân dân, thực hiện thống nhất đất nước. Cuối cùng, tướng Mỹ- Ha-minh-tơn Hao-đơ[1] đã phải chua chát thừa nhận: "Dù bè bạn an ủi chúng ta thế nào, dù chúng ta có viện những nguyên nhân gì để bào chữa cho thất bại, dù tổng thống khuyên chúng ta nên quên cuộc chiến tranh này đi và nhìn về tương lai, Việt Nam vẫn là một cố gắng to lớn của nước Mĩ đã thất bại và thất bại hoàn toàn" [3, tr.77].

Chiến thắng vĩ đại Mùa Xuân 1975 là bàn đạp cho cả dân tộc Việt Nam có thêm bản lĩnh, niềm tin để vượt lên mọi khó khăn, gian khổ đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Chiến thắng đó còn là động lực để chúng ta vươn ra biển lớn trong cuộc hội nhập quốc tế. Kể từ ngày giải phóng đến nay, đặc biệt là qua 30 năm đổi mới, trước bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, đất nước gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhất là trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự bùng nổ của mạng Internet, các thế lực thù địch chống phá quyết liệt trên không gian mạng, đã gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, nhưng với tinh thần Chiến thắng 30-4, bằng quyết tâm, nỗ lực không ngừng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, đất nước đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, kinh tế-xã hội ngày càng phát triển; đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện... Cùng với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chúng ta đã giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để phát triển toàn diện đất nước. Tiềm lực mọi mặt của đất nước được tăng cường. Uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Phía trước chúng ta đang có cả thời cơ và thách thức. Dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp, khó lường, ngày càng lan rộng trên toàn thế giới, đã có hơn 200 ngàn người tử vong, đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng và tác động nhiều mặt đến kinh tế và đời sống của nhân dân. Nhưng với tinh thần Chiến thắng 30-4 và những truyền thống, bài học quý báu đúc kết từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, chúng ta một lần nữa với sự vào cuộc chủ động, quyết liệt của cả hệ thống chính trị, sự quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nên công tác phòng, chống và kiểm soát dịch COVID- 19 ở nước ta đã đạt được kết quả bước đầu, được nhân dân cả nước tin tưởng và bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đúng như Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhận định: “Điều này thể hiện sức mạnh đoàn kết, truyền thống yêu nước, tinh thần tương thân, tương ái của dân tộc. Trong những lúc khó khăn, gai góc nhất, mỗi người dân Việt Nam thể hiện bản sắc, tinh thần dân tộc, tô thắm truyền thống quý báu của Đảng ta, dân tộc ta và bản lĩnh, ý chí, khí chất con người Việt Nam”.

Như vậy, sức mạnh Việt Nam không chỉ tỏa sáng trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, mà còn tiếp tục được khẳng định trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với tinh thần đoàn kết, chung sức, chung lòng của cả hệ thống chính trị, tôi tin tưởng rằng, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tiếp tục giành nhiều thắng lợi to lớn hơn nữa./.

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Đảng Cộng sản Việt Nam:  Văn kiện Đảng toàn tập, tập 26, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003, tr. 633.

2. Hồ Chí Minh: Biên niên những sự kiện và tư liệu về quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1990, tr 203

3. Nhà xuất bản Sự thật: Vì sao Mĩ thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1986, tr. 77.

 


[1] Ha-minh-tơn Hao-đơ được coi là một trong những viên tướng kì cựu nhất của quân đội Mĩ, đã từng tư lệnh bộ chỉ huy quân đội LHQ tại Nam Triều Tiên, thuộc loại "siêu diều hâu" trong hàng ngũ các tướng và đô đốc Mĩ.

 

Số lần đọc: 58
Tin liên quan