22.07.2020

ThS. Huỳnh Thị Hồng Nương

Khoa Lý luận cơ sở

Trường Chính trị tỉnh Kiên Giang

 

Tóm tắt

Bài viết tập trung nghiên cứu một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; trên cơ sở đó vận dụng cho công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Kiên Giang, phát huy tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ cách mạng trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong tình hình mới.

1. Đặt vấn đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của Đảng và dân tộc Việt Nam, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh không biết mệt mỏi vì độc lập, tự do của dân tộc, nhà hoạt động cách mạng lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, anh hùng giải phóng dân tộc. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn quan tâm đến việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp, huy động mọi lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh toàn dân, sức mạnh của thời đại cùng với Đảng ta, đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này, đến thắng lợi khác. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là sự thể hiện tư tưởng nhân văn của Người; là sự kế thừa truyền thống yêu nước, tinh thần cộng đồng của dân tộc Việt Nam, của nền văn hóa Việt Nam trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước; là tư tưởng đoàn kết quốc tế của Chủ nghĩa Mác - Lênin; được xây dựng, bổ sung và phát triển thông qua thực tiễn cách mạng Việt Nam. Những vấn đề về tư tưởng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chỉ nam cho việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ cách mạng trong tình hình mới hiện nay. 

2. Một số nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là một hệ thống quan điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục, tổ chức, tập hợp lực lượng cách mạng nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp trong xã hội, phát huy đến mức cao nhất sức mạnh của dân tộc, sức mạnh của thời đại, thực hành đoàn kết trong Đảng, để đấu tranh giải phóng dân tộc, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng, trong mọi hoàn cảnh, điều kiện phức tạp, khó khăn, thuận lợi của cách mạng. Nội dung tư tưởng đại đoàn kết của Người tập trung vào một số vấn đề lớn như sau:

Thứ nhất là, tư tưởng “Đoàn kết làm ra sức mạnh”, “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng của đại đoàn kết toàn dân tộc đối với cách mạng Việt Nam; với Hồ Chí Minh, “đoàn kết, đại đoàn kết” là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; một chiến lược cách mạng – để huy động, tập hợp mọi lực lượng để có thể tập hợp được, hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong đấu tranh với kẻ thù chung của dân tộc, giai cấp, là đạo lý sống và lối ứng xử nhân văn của con người Việt Nam.

Người nhắc lại truyền thống đoàn kết là một sức mạnh của dân tộc: “Nhân dân Việt Nam có truyền thống yêu nước nồng nàn. Lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang sử oanh liệt đấu tranh dựng nước và giữ nước.

Ca dao có câu:

Nhiễu điều phủ lấy giá gương,

Người trong một nước thì thương nhau cùng.

Câu đó nói lên sự đoàn kết chặt chẽ của nhân dân trong đấu tranh.” [14, tr.313]

Trong Diễn ca “Lịch sử nước ta”, Người mở đầu bằng bốn câu:

“Dân ta phải biết sử ta,

Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Kể năm hơn bốn ngàn năm,

Tổ tiên rực rỡ, anh em thuận hòa.” [13, tr.221]

Và Người kết thúc bằng hai câu nhấn mạnh “chữ Đồng”.

“Dân ta xin nhớ chữ đồng,

Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”.

Nhìn ở góc độ số lần đề cập đến vấn đề đoàn kết trong các bài viết của Người phần nào càng khẳng định rõ hơn sự quan tâm đặc biệt của Người đối với sự đoàn kết. Theo số liệu thống kê, trong 1.921 bài viết của Bác có tới 839 bài Bác Hồ đề cập đến vấn đề đoàn kết thống nhất và có tới 1.809 lần Bác dùng từ “đoàn kết”, “đại đoàn kết” Trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, vấn đề đoàn kết trong Đảng được Bác nhắc đi, nhắc lại 16 lần. Trong “Di chúc”, thuật ngữ “đoàn kết” được Bác nhấn mạnh 7 lần. 0Có thể nói rằng đoàn kết và giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng là tư tưởng nhất quán và xuyên thấm từ thời dựng Đảng đến tận phút cuối cùng trọn vẹn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện qua những con số thống kê ở trên. Trong đoàn kết thì đoàn kết trong Đảng l`à điểm mẹ, tạo sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế theo tinh thần “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”. Mức độ thắng lợi của cách mạng tỷ lệ thuận với khả năng đoàn kết.

Thứ hai là, “đoàn kết là một truyền thống cực kì quí báu của Đảng và nhân dân ta, các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

Đoàn kết! là một trong những giá trị tinh thần quý báu và mang tính truyền thống của dân tộc ta. Lịch sử Việt Nam đã minh chứng rằng: một dân tộc đất không rộng, người không đông, nhưng do đoàn kết một lòng nên đã tạo ra một sức mạnh phi thường để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Và sự đoàn kết ấy đã viết nên những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đó là nền tảng, là động lực trong công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa như hiện nay.

Hồ Chí Minh luôn xác định đoàn kết là chiến lược, là yêu cầu khách quan của cách mạng, là chân lý của thời đại. Người khẳng định đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn, quyết định sự thành công của cách mạng. Trong Di chúc, Người nhắc đi nhắc lại 8 lần cụm từ đoàn kết. Người viết “Trước hết nói về Đảng - Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” [10, tr.510]

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trước khi Người đi xa đã để lại bản “Di chúc” lịch sử chỉ đường dẫn lối cho cách mạng Việt Nam tiến lên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, vững bước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Di chúc là những lời dặn cuối cùng, là niềm tin, tình cảm của Bác đối với sự nghiệp cách mạng, đối với Đảng và nhân dân ta trước khi Người “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Và cũng vì thế, Di chúc là đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh ở nhiều phương diện, thắm đượm tinh thần nhân văn và tinh thần dân tộc, trong đó nổi bật là tư tưởng đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời thể hiện tầm nhìn, cách nhìn của một trí tuệ lớn, một tinh thần nhân văn, một tư duy cách mạng và khoa học, đổi mới và sáng tạo. Trong những nội dung của Di chúc, “đoàn kết” là nội dung hết sức quan trọng. Trong Di chúc, Bác nhấn mạnh trước hết là sự đoàn kết trong Đảng. Đó là nhân tố tạo nên sức mạnh, tạo nên mọi thắng lợi trong sự nghiệp của Đảng ta.

“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công” [9, tr.350] được Bác Hồ khẳng định, căn dặn tâm huyết trong Di chúc trước hết là đoàn kết trong Đảng, Đảng có đoàn kết nhất trí thì mới lãnh đạo, làm hạt nhân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Thứ ba là, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra những biện pháp vừa mang tính nguyên tắc cơ bản, vừa mang tính cụ thể.

Những nguyên tắc, biện pháp mà Bác đã căn dặn trong Di chúc nhằm xây dựng, củng cố khối đoàn kết của Đảng xuất phát từ những nguyên lí của chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn của cách mạng Việt Nam, vừa mang tính nguyên tắc, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Để giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, Di chúc đã chỉ ra những biện pháp vừa mang tính nguyên tắc cơ bản, vừa mang tính cụ thể.

Một là, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng. Người căn dặn phải thực hành dân chủ một cách rộng rãi. Nhiều lần Bác đã nói “Nếu trong Đảng không thực hiện dân chủ tốt sẽ làm cho nội bộ Đảng trở nên âm u, sức mạnh của Đảng không thể phát huy được. Thực hành dân chủ phải thường xuyên, mọi nơi, mọi lúc, tránh hình thức, chống lại bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền…”. Bác khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tối cao trong hoạt động của các Đảng mácxít.

Hai là, “để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” bên cạnh việc thực hiện dân chủ rộng rãi thì Đảng phải “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình” [10, tr.510]. Đây là logic của việc củng cố và tăng cường sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Đảng phải biết nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật khách quan, đấu tranh, phê bình để sửa chữa, để phát triển. Người nói “làm cách mạng phải có việc đúng, việc sai. Dĩ nhiên việc đúng là chủ yếu, việc sai là thứ yếu. Người cách mạng phải dám nhận ra cái sai để đấu tranh, để sửa chữa”.

Ba là, để thực hiện phê bình và tự phê bình đúng đắn và nghiêm chỉnh, Bác chủ trương “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Vì chỉ có tình đồng chí yêu thương lẫn nhau thì phê bình và tự phê bình dễ rơi vào lệch lạc như “dĩ hòa vi quí” hoặc bè cánh, che giấu khuyết điểm, đấu đá bôi nhọ, lật đổ lẫn nhau.

Đảng phải xứng đáng với niềm tin của nhân dân, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân. Đảng lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối cách mạng Việt Nam phải bằng niềm tin. Người đảng viên không phải là quan, đứng trên dân, mà là người đày tớ trung thành của nhân dân.

Trong đoàn kết thì đoàn kết trong Đảng là điểm mẹ, tạo sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế theo tinh thần “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết”, thế nhưng chỉ đoàn kết trong Đảng là chưa đủ và không thể thành công được, mà còn phải đoàn kết toàn dân cả nước. Do đó, phải thực hiện đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài.

Bác Hồ từng nói “Trong bầu trời không gì quí bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.” [8, tr.276]

“Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được

Dân chúng không ủng hộ việc gì làm cũng không nên.” [7, tr.293]

“Dễ mười lần không dân cũng chịu

Khó trăm lần dân liệu cũng xong.” [10, tr.212]

Dó đó, phải thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài.

          Trong những năm thực hiện sự nghiệp đổi mới thông qua phong trào thi đua yêu nước, thực hiện cuộc vân động: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”... tình đoàn kết gắn bó giữa giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, tình đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo; đoàn kết mọi giới, mọi lứa tuổi, người đang công tác và người nghỉ hưu ngày càng gắn bó, sự đồng thuận trong xã hội ngày càng cao; các cuộc vận động đã phát triển ngày càng sâu rộng, đã hội tụ các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, những giá trị đạo đức truyền thống của nhân dân ta, được nhân dân ghi nhận và đồng tình ủng hộ, thể hiện “ý Đảng, lòng dân” góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, làm nảy nở thêm lòng nhân ái, giữa con người với con người tạo mối quan hệ máu thịt giữa nhân dân với Đảng, Chính quyền và Mặt trận ngày càng gắn bó; tạo nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu góp phần quan trọng bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, thực hiện thắng lợi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao uy tín và vị thế của nước nhà. Tất cả những điều nói trên đã khẳng định tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, nhân tố có ý nghĩa quyết định đảm bảo thắng lợi bền vững cho sự phát triển của quê hương, đất nước trong mọi giai đoạn của cách mạng.

Thứ tư là, thực hiện đoàn kết phải biểu hiện ở cả tư tưởng và hành động; tư tưởng phải thống nhất, hành động cũng phải thống nhất.

Đảng tuy nhiều người, song khi tiến đánh thì chỉ như một người; đoàn kết không phải là ngoài miệng mà phải đoàn kết trong công tác, trong tự phê bình và phê bình, trên nguyên tắc tập trung dân chủ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, đoàn kết trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, có lý, có tình, bằng tình cảm cách mạng trong sáng, tình thương yêu đồng chí, đồng bào. Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, 50 năm qua, Đảng ta luôn coi trọng, chăm lo củng cố, giữ vững sự đoàn kết nhất trí trong Đảng.

Ngoài ra, trong Di chúc, chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và nhân dân ta, các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải gìn giữ sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”… Truyền thống đoàn kết của Đảng có cội nguồn từ truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã chung lưng đấu cật, sát vai nhau chống thiên tai, địch hoạ để xây dựng đất nước và bảo vệ bờ cõi giang sơn. Sự đoàn kết thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt Nam đã không ngừng được thử thách trong suốt chiều dài lịch sử để đúc rút nên: “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Người khuyên cán bộ, đảng viên của Đảng phải thương yêu, nuôi dưỡng và phát triển tình đồng chí, nghĩa đồng bào, giữ gìn đạo đức cách mạng, chống các căn bệnh của chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm rằng đoàn kết trong Đảng phải thể hiện ở tư tưởng và hành động; tư tưởng, hành động phải thống nhất; nói luôn đi đôi với làm, có đạo đức, nhân cách, chỉ có như vậy mới thật sự quy tụ mọi lực lượng trong xã hội, trở thành động lực, đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Thứ năm là, đoàn kết là một động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Với Hồ Chí Minh, tương lai của đất nước, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được quyết định bởi chính truyền thống đoàn kết, ý cuối cùng, những dòng cuối cùng Di chúc (năm 1969) của Hồ Chí Minh được viết ra với tâm nguyện: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. Điều này cho thấy rằng: sức mạnh của toàn thể dân tộc Việt Nam không chỉ là phép tính giản đơn của sự đoàn kết trong Đảng cộng với khối đoàn kết của những người ngoài Đảng, mà chính là sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. Chính truyền thống đoàn kết của dân tộc đã được những người cộng sản Việt Nam kế thừa, phát triển, tạo nên một truyền thống mới Hồ Chí Minh viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”. Có thể nói, Hồ Chí Minh đã đặt trọn niềm tin vào truyền thống đó. 

3. Phát huy tư tưởng đoàn kết của chủ tịch Hồ Chí Minh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng ở tỉnh Kiên Giang trong tình hình hiện nay

Từ những tư tưởng đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới đất nước, tư tưởng đoàn kết của Người vẫn luôn là ánh sáng soi đường cho Đảng ta, cả dân tộc ta, tiến lên những đỉnh cao mới, xây dựng đất nước hùng cường, học theo tư tưởng của người, Đảng bộ, dân và quân Kiên Giang tiếp tục phát huy sức mạnh trong khối đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu xây dựng tỉnh nhà ngày càng giàu đẹp, văn minh, đảm bảo quốc phòng an ninh, bảo vệ vững chắt Tổ quốc, cần chú ý thực hiện một số vấn đề sau:

            - Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về sức mạnh của nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc, được tập hợp trong Mặt trận dân tộc thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng là một chiến lược, là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

            - Mặt trận Tổ quốc không ngừng củng cố, đổi mới phương thức hoạt động, theo hướng đa dạng hóa và mở rộng các hình thức tập hợp, hướng mạnh các hoạt động về cơ sở và khu dân cư, đến với từng hộ gia đình và mọi người dân, phải xuất phát từ lợi ích chính đáng của nhân dân trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

            - Đẩy mạnh phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, trong đó phải chú ý đặc biệt, thực hành đoàn kết thống nhất trong Đảng, đoàn kết trong Đảng là hạt nhân của đoàn kết toàn dân và đoàn kết trong Mặt trận, đồng thời phải mở rộng dân chủ, trước hết là dân chủ trong kinh tế, dân chủ từ cơ sở, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội, tạo không khí cởi mở, tin tưởng, cùng nhau hướng tới tương lai, lấy lợi ích chung làm điểm tương đồng.

            - Phải xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân, thường xuyên tự phê bình và lắng nghe ý kiến phê bình, góp ý xây dựng của nhân dân.

4. Thay lời kết

Tư tưởng đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; thành công, thành công, đại thành công của chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là kim chỉ nam trên những chặng đường lịch sử của dân tộc, để chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước, tạo nên sức mạnh tổng hợp làm nên những thắng lợi vẻ vang của dân tộc, và thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tiếp tục thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng bộ, dân và quân Kiên Giang không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh. Không ngừng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh ở tỉnh nhà.

Danh mục tài liệu tham khảo

1. Bảo tàng Hồ Chí Minh, Trường KHXH & NV Hà Nội, Giá trị nhân văn của Di chúc Hồ Chí Minh (kỷ yếu Hội thảo khoa học), Nxb. Thanh niên, 2010.

2. Ban tuyên giáo Trung ương, Tài liệu học tâp các văn kiện Đại hội đaị biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

3. Ban tuyên giáo Trung ương, Tài liệu học tập chuyên đề tư tưởng tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm và tác phẩm sửa đổi lối làm việc, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.

4. Bộ giáo dục và Đào tạo, Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh (dùng cho sinh viên cao đẳng, đại học khối không chuyên ngành các môn khoa học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2010.

5. Di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh một văn kiện lịch sử, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

6. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

7. Hồ chí Minh Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

8. Hồ chí Minh Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.

9. Hồ chí Minh Toàn tập, tập 10, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009

10. Hồ chí Minh Toàn tập, tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.

11. Võ Nguyên Giáp, Một số nội dung tư tưởng nhân văn, đạo đức, văn hoá Hồ Chí Minh, TCCS số 9/5-1997.

12. Vũ Kỳ, Bác Hồ viết Di chúc, Nxb trẻ, 4/2005.

13. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, 1996.

14. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, 1996.

 

Số lần đọc: 53
Tin liên quan